Hiểu thêm về các chỉ số ô nhiễm nước thường dùng BOD, COD, TSS, Coliforms

Hiểu thêm về các chỉ số ô nhiễm nước thường dùng BOD, COD, TSS, ColiformsChúng ta hãy cùng tìm hiểu các thuật ngữ hay gặp trong ngành xử lí ô nhiễm: BOD, COD, TSS, coliform
Lượt xem: 2,985 lượt

BOD

BOD là viết tắt của Biochemical Oxygen Demand, đây là chỉ số đo lượng oxy hòa tan trong nước mà các vi sinh vật cần đến để phân hủy các chất hữu cơ có trong một mẫu nước, ở một nhiệt độ nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định.

Ý nghĩa của BOD: trong nước sạch, có ít tạp chất hữu cơ hơn, do đó vi sinh vật không hoạt động nhiều và không tiêu tốn oxy hòa tan nhiều. Ngược lại, trong nước ô nhiễm, có nhiều tạp chất hữu cơ hơn, các vi sinh vật hoạt động nhiều và sử dụng hết nhiều oxy trong nước. Nắm được nguyên lí này, BOD là một phép thử tương đối chính xác đo độ ô nhiễm hữu cơ của nước.

Theo quy ước chung, BOD được tính bằng lượng oxy chênh lệch theo mg, trong 1 lít nước, ở nhiệt độ 20oC, sau 5 ngày, trong bóng tối (để tránh quang hợp tạo thêm oxy gây sai lệch kết quả).

Các ngưỡng BOD khi đo 1 con sông:

Oxy hòa tan (mg/l)

Chất lượng nước

1-2

Rất tốt

3-5

Tương đối sạch

6-9

Hơi ô nhiễm

10+

Rất ô nhiễm

Theo quy định hiện hành, nước đã xử lý với BOD dưới 30 mg/L được coi là an toàn

COD

Tương tự BOD, COD là viết tắt của Chemical Oxygen Demand, đây là chỉ số đo lượng oxy hòa tan trong nước bị phản ứng oxy hóa với các chất hữu cơ có sẵn trong một mẫu nước, tạo ra CO2, NH3, và H2O, trong một khoảng thời gian nhất định, trong một điều kiện nhất định.

Ý nghĩa của COD: các chất hữu cơ trong nước sẽ dễ dàng phản ứng với chất oxy hóa mạnh, là oxy, do đó, nước sạch hơn sẽ tiêu thụ ít oxy hơn so với nước ô nhiễm, trong cùng điều kiện.

Chú ý, nếu COD và BOD cao hơn nồng độ hòa tan của oxy trong nước, các chất hữu cơ không thể bị phân hủy, do đó nước bị ô nhiễm.

Tuy không hoàn toàn chính xác, COD và BOD đều là những phép đo hữu ích để xác định mức độ ô nhiễm của nước.

 

TSS

TSS, Total suspended solids: Tổng chất rắn lơ lửng. Chỉ số này được đo bằng cách lọc nước qua 1 màng lọc, phơi khô màng, và cân lượng chất rắn bị giữ lại trên màng.

Phép đo TSS có rất nhiều vấn đề về độ chính xác. Lượng chất rắn bị giữ lại phụ thuộc nhiều vào mắt lưới màng lọc. Hơn nữa, tốc độ dòng chảy cũng ảnh hưởng lớn đến lượng chất rắn bị giữ lại: dòng chảy chậm sẽ bị giữ lại nhiều chất rắn hơn. Cuối cùng, ở công đoạn phơi khô, ta có thể bị nhiễm chất tan trong nước vào mẫu thử, gây sai lệch kết quả, điều này đặc biệt nghiêm trọng khi đo TSS trong nước biển.

Tuy nhiên, kể cả với những vấn đề này, TSS vẫn là phép đo tin tưởng được, vì nó rất đơn giản và nhất quán. Các sai lệch có thể được hiệu chỉnh bằng cách đo nhiều lần.

Theo quy định hiện hành, nước đã xử lý với TSS dưới 50 mg/L được coi là an toàn

 

Tổng Coliform

Coliforms là một nhóm các loài vi khuẩn có phổ biến trong tự nhiên, nhưng tập trung nhiều ở trong phân các loài động vật máu nóng. Phần lớn coliforms không gây hại cho người, nhưng chúng có các đặc điểm lan truyền giống các loài có hại, hơn nữa chúng rất dễ bị phát hiện, do đó chúng ta dùng coliforms như một chỉ số đo ô nhiễm có nguồn gốc từ phân.

Theo quy định hiện hành, nước đã xử lý với tổng coliforms dưới 3000 cá thể/mL được coi là an toàn

 

Bài viết khác cùng chuyên mục

MÔ TẢ TOÀN BỘ THÍ NGHIỆM JARTEST TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI DỆT NHUỘM [P3]
Bài viết hôm nay sẽ bổ sung cho phần nội dung của thí nghiệm Jartest xét hiệu quả bằng định lượng, mô tả về thí nghiệm C5 nước thải có màu đỏ - Granet, C6 nước thải có màu nâu – Brown và C7: nước thải màu Đỏ - Wine.
Tính chất nước thải ngành giấy và ứng dụng của chế phẩm vi sinh trong xử lý nước thải giấy
Bên cạnh những ích lợi to lớn mà ngành công nghiệp sản xuất giấy mang lại thì vẫn còn tồn đọng các vấn đề về tình trạng môi trường, mà cụ thể là xuất phát từ nước thải.
Cách tính chỉ số thể tích bùn (SVI) và ứng dụng trong hệ thống xử lý nước thải
Đối với những chuyên viên vận hành hệ thống bùn hoạt tính, việc tính toán các chỉ số SVI là rất quan trọng vì nó phản ánh mức độ hiệu quả xử lý nước thải, trạng thái của aerotank,… Vậy, chỉ số SVI là gì và cách tính chỉ số này như thế nào?
Thí nghiệm Jartest trong xử lý nước thải được tiến hành như thế nào?
Thí nghiệm Jartest là thí nghiệm xác định pH tối ưu cho quá trình keo tụ đối với từng màu của nước thải nhuộm đồng thời xác định liều lượng phèn tối ưu ứng với pH tối ưu cho từng màu đó. và xác định PAC tối ưu của quá trình keo tụ tạo bông trong một hệ thống xử lý nước thải.
Chia sẻ lên mạng xã hội